Featured Post Today
print this page
Latest Post

Bánh cooc mò lạ lẫm nơi thị thành

Bánh cooc mò đặc sản của Bắc Kạn một trong những món bánh ngon nổi tiếng của xứ này. Cùng tìm hiểu về một nét văn hóa và một tên gọi đặc sản Bắc Kạn khó nghe này nhá.
Làm bánh là tập quán và sở thích của cư dân miền núi, dân tộc Bắc Kạn có rất nhiều loại bánh cả bánh cho ngày thường và bánh làm trong các dịp lễ tết như bánh nếp, bánh sừng bò, sủi dìn, bánh trứng kiến., bánh áp chao... 
Coóc mò cũng là một loại bánh được bà con các dân tộc Bắc Kạn hay làm hơn cả. Mới nhìn qua nhiều người nhầm là bánh gio vì hình thức bánh coóc mò cũng giống như vậy . Bánh cũng được gói theo hình chóp nhưng lá gói bánh lại là lá chuối .


Để có được những chiếc cooc mò vừa dẻo, thơm lại đẹp mắt, người ta phải chọn những chiếc lá dong vừa xanh vừa mượt, không bị rách, bị sâu. Lá lấy về đem rửa sạch, phơi khô, để ráo nước. Công đoạn chẻ lạt làm dây gói bánh cũng được tiến hành rất tỉ mỉ. Lạt được làm từ cây thân giang hoặc cây mỡ, chẻ làm sao cho lạt nhỏ đều, mềm, dai để khi gói không làm rách lá bánh.

Bánh được làm từ loại gạo nếp thơm, trắng, hạt tròn đều, gạo được vo kỹ bằng nước được hứng từ các khe suối trên núi nên càng sáng và mẩy hơn.

Gạo phải để ráo nước, sau đó đem trộn lẫn với lạc sống đã giã nhỏ và thêm một chút muối cho vừa ăn.

Công đoạn gói bánh tưởng chừng đơn giản nhưng rất cần sự tỉ mỉ, khéo léo của các bà, các chị. Những chiếc lá dong được cuộn lại như hình cái phễu rồi đổ gạo và lạc đã trộn lẫn vào trong, vỗ nhẹ bên ngoài cho gạo xuống đều hoặc dùng chiếc đũa nhỏ xọc cho gạo nén chặt, sau đó mới gấp mép lá và dùng lạt buộc lại.
Bánh coóc mò ăn có vị đậm và thơm bởi được làm từ gạo nếp nương và lạc nhân đỏ . Ăn không ngán vì dễ ăn và mùi vị hợp với nhiều người, bánh coóc mò rất hợp với những bữa điểm tâm buổi sáng. Bóc chiếc bánh xanh rền, ăn dẻo, thơm bạn mới thấy hết ý nghĩa của món bánh này. Nếu ghé Bắc Kạn bạn đừng quên thưởng thức món ăn giản dị mà hấp dẫn này nhé
0 nhận xét

Khâu nhục món ngon đặc sắc của Bắc Kan

Khâu nhục món ngon đặc sản của vùng đất Bắc Kan, ai đã từng có dịp du lịch tới vùng đất này thì phải nếm thử mìu vị đặc sản Khâu Nhục này nhá mọi người. Hãy cùng đặc sản miền bắc tìm hiểu về món ăn có tên gọi tương đối lạ tai này nhá... là một món ngon có tiếng của tỉnh Bắc Kạn

Là món ăn đặc biệt mang đậm tính dân tộc của nhân dân Bắc Kạn. Ai đã một lần được thưởng thức thì khó có thể quên bởi mùi vị của món ăn rất hấp dẫn , không chỉ thơm ngon,béo ngậy mà còn rất bùi .


Món khâu nhục làm cũng lắm công phu, khoai được chọn phải là khoai môn Bắc Kạn, bên trong lòng khoai có vân màu tím . Thịt lợn phải là thịt ba chỉ ngon, luộc sơ qua,dùng tăm tre chọc bì thật kĩ ,tẩm ướp gia vị rồi đem quay, vưa quay vừa quết mật ong cho vàng bì . khoai cũng phải rán vàng . mọi thứ được xếp vào bát, cứ một miếng khoai,một miếng rhịt ,cho nhân được làm bằng thịt, nấm hương, mộc nhĩ ...đã xào lên trên hấp cách thuỷ khoảng 5 tiếng đồng hồ .

Thành phẩm khi xong được cho ra đĩa rất đẹp. Món khâu nhục làm cầu kì nhưng ăn lại rất ngon nên nhân dân Bắc Kạn thường dành vào những dịp đặc biệt như lễ tết, cưới hỏi và vào nhà mới . Chỉ cần thử một chút bạn cũng đủ cảm nhận được hết hương vị của món đặc sản này, vị béo ngậy của thịt, vị thơm của khoai dã hầm bở ... tất cả đều kết tinh trong món ăn. Ngưòi Bắc Kạn rất tự hào vì ngoài đặc sản cơm lam, bánh gio, tôm chua... còn có thêm món khâu nhục và họ không bỏ qua cơ hội để giới thiệu đặc sản của quê hương mình với thực khách gần xa .
0 nhận xét

Chè đỗ đãi món ngon đặc sản của Bắc Giang

Trong những món ngon khó quên đặc sản ở Bắc Giang, không thể không kể đến món chè đỗ đãi (đậu đãi) ngọt ngào của làng Mỹ Độ - một ngôi làng nhỏ nằm ven bờ sông Thương.
Bên cạnh các đặc sản có tiếng như: mỳ Chũ, bánh đa Kế, vải thiều Lục Ngạn… chè đỗ đãi là món đặc sản rất dẫn dã thường thấy vào dịp lễ, Tết.

Nghệ nhân Phan Thị Thêm ở làng Mỹ Độ đã có gần 20 năm gắn bó với món chè này. Cô cho biết để làm được một mẻ chè ngon phải trải qua nhiều công đoạn.

Trước khi nấu chè, phải ngâm đỗ vào nước trong vòng 3 tiếng. Đỗ sau đó phải đãi kỹ lưỡng, không còn sót vỏ hạt. Để đãi được hàng chục kg đỗ sạch vỏ trong thời gian nhanh nhất cũng đòi hỏi sự khéo léo của người trong nghề.
Đỗ đãi vỏ, đổ vào nồi, cho nước trên đốt ngón tay thì bắt đầu nổi lửa. Khi nấu phải dùng củi, vì củi giúp giữ nhiệt lâu, lại có thể điều chỉnh ngọn lửa cho phù hợp. Công đoạn này phải canh lửa thật khéo, vì lửa to, nồi chè dễ bén mà lửa nhỏ, đỗ sượng không chín đều cũng coi như hỏng.

Khi đỗ sủi phải hớt hết bọt, ninh cạn, giảm lửa, vần nồi chè trên bếp bằng nhiệt than củi cho đỗ chín đều. Khi đỗ bắt đầu nhuyễn, là lúc cho đường vào. Cứ 1 kg đỗ thì 1,3 kg đường, nếu thiếu đường, chè sẽ không sánh, dễ vữa khi đổ khuôn.
Sau khi cho đường vào, chè dễ bén nồi vì thế điều chỉnh ngọn lửa chỉ liu riu trên bếp. Lúc này, khâu quấy chè là rất quan trọng. Quấy liên tục, đều tay, càng quấy nhiều, chè càng nhuyễn, càng sánh. Đun nồi chè thông thường hết 5 tiếng thì riêng việc quấy chè đã mất gần 3 tiếng. Quấy chè đến khi chè trong nồi sóng sánh như mật thì cho vani vào và bắc nồi chè xuống bếp.



Để đĩa chè đẹp mắt, khâu múc chè cũng phải có kỹ thuật, phải múc khi nóng đổ đều tay quay tròn trên đĩa để chè thành khuôn, phẳng tròn. Lúc này rắc vừng đã rang chín vàng, sẩy sạch vỏ lên trên mặt đĩa chè.

Đêm trăng rằm sau khi thắp tuần nhang mời ông bà tổ tiên, đĩa chè được hạ xuống, chủ nhà ngồi nhâm nhi chè bên ấm trà xanh thật sảng khoái. Ngày nay, trong nhiều mâm cỗ, chè đỗ đãi được đặt trang trọng như một món tráng miệng khoái khẩu. Hơn thế, nhiều người còn coi như món quà quê hương được vận chuyển đi những vùng đất xa xôi.
0 nhận xét

Đặc sản rựu men lá của người Nùng, Bắc GIang

Rựu men lá, một tên loại rựu vô cùng lạ tai chắc hẳn chưa nhiều người miền trong biết được loại rựu này. Rự men lá của người Nùng là một trong những đồ uốn nổi tiếng của Bắc Giang và của vùng núi nơi đây mà ai khi nghe tên cũng mong một lần được thưởng thức loại rựu men lá này.
Ai đã từng đến vùng đất vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang), được thưởng thức rượu Kiên Thành – loại rượu được ủ bằng men lá đặc trưng của dân tộc Nùng nơi đây chắc không thể nào quên. Đó là rượu có hương thơm tự nhiên của lá cây rừng, uống rất dịu êm và đặc biệt là không bị đau đầu… hơn hẳn nhiều loại rượu khác.

Rựu men lá đặc sản của người Nùng

Rựu men lá đặc sản nổi tiếng nơi đây.

Cùng với các sản vật thơm ngon nổi tiếng của quê hương Lục Ngạn như vải thiều, cam đường Canh, nếp cái hoa vàng, mỳ Chũ, mật ong… thì từ lâu, sản phẩm truyền thống rượu men lá của người Nùng ở xã Kiên Thành (hay còn gọi là rượu Kiên Thành) đã được nhiều người biết đến như một đặc sản của vùng đất vải thiều. Chính bởi những đặc trưng riêng không thể pha chộn như: rượu luôn dịu êm dễ uống (dù nồng độ cao); luôn có hương thơm tự nhiên của lá cây rừng và đặc biệt là thực khách không bị đau đầu cho dù có vô tình uống đến say… nên sản phẩm rượu men lá Kiên Thành ngày càng được nhiều người ưa chuộng.

Tuy nhiên, để trưng cất được những giọt rượu men lá Kiên Thành thơm ngon nổi tiếng, bà con dân tộc Nùng ở nơi đây đã phải vất vả thực hiện nhiều công đoạn từ: việc lên rừng hái lá làm men, đến việc chọn gạo nấu cơm, rồi bắt men lá vào cơm, sau đó ủ men, rồi trưng cất rượu… Trong đó, mỗi một công đoạn lại đòi hỏi kỹ thuật và cả sự tỉ mỉ khéo léo riêng.

Để tìm hiểu sự tinh túy của rượu men lá Kiên Thành, chúng tôi đã tìm đến gia đình ông Lăng Văn Nam, dân tộc Nùng ở thôn Gai Đông, xã Kiên Thành, người đã có hơn 20 năm kinh nghiệm làm men lá rừng để cung cấp cho người dân địa phương nấu rượu. Ông Nam cho biết, nguyên liệu để tạo nên những chiếc men lá gồm có 5 loại cây theo tiếng Nùng gọi gồm: Cây trăm rễ, lá cây giời giời, cây hoa vàng, lá cây tai chó và cây vạt hương. Thiếu đi một loại lá cây rừng này, thì chất lượng rượu nấu sẽ ít thơm và không ngon. Sau khi vất vả đi hái đủ 5 loại lá cây này rồi, đầu tiên sẽ phơi khô nhằm bảo quản tốt. Bước tiếp theo đun dây và lá cây giời giời lên lấy nước để nguội, sau đó ngâm với gạo khoảng 2 tiếng. Sau khi ngâm xong đem gạo và 4 loại lá còn lại đi nghiền nhỏ về lặn lẫn với bột gạo, rồi ủ vào chấu và phủ kín lên.
Thêm chú thích


Thêm chú thích

Công đoạn trưng cất rượu và thử rượu men lá vừa mới trưng cất

Đó là những công đoạn cần thiết để tạo nên những quả men lá đặc trưng trong cách nấu rượu của người Nùng ở Kiên Thành. Tuy nhiên công đoạn nấu rượu Kiên Thành cũng công phu không kém. Với hơn 10 năm kinh nghiệm nấu rượu men lá Kiên Thành, hiện gia đình anh Lương Văn Vượng, chị Phùng Thị Thảo trung bình mỗi ngày nấu được gần 100 lít rượu để cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh Bắc Giang. Theo chị Thảo, muốn nấu rượu men lá ngon, trước tiên phải chọn được men lá của gia đình bảo đảm chất lượng. Sau đó chọn gạo ngon nguyên chất về xay ra. Lúc nấu cơm phải nấu thật chín rồi “bắt men lá” vào cơm cho đều đến từng hạt (bắt men càng đều thì sau này rượu càng ngon); tiếp đến phải ủ kín cơm đã bắt men vào thùng nhựa kín từ 2 – 3 ngày, không được mở; tiếp đến cần ủ khô cơm đã bắt được men lá từ 10 đến 12 ngày nữa. Sau đó mới được đổ nước vào cất thành rượu. Ở công đoạn trưng cất rượu, bà con người Nùng sử dụng phương pháp cất ba ba (lưu ý ba ba phải được làm bằng gỗ mít và ống dẫn rượu được làm bằng tre thì rượu mới ngon); trong quá trình cất phải đun đều lửa, không cho cháy to quá cũng không nhỏ quá để rượu ra từ từ. Nếu đun to qua rượu ra nhanh sẽ mất mùi thơm. Thông thường mỗi kg gạo bà con nơi đây trưng cất được 1 lít rượu men lá.

Cũng bởi những đặc trưng của rượu men lá Kiên Thành là uống dịu êm và có hương thơm tự nhiên nên không ít người lần đầu uống rượu Kiên Thành cứ ngỡ rằng rượu nhẹ, họ thoải mái nâng ly trong cuộc vui rồi say tự lúc nào không biết. Có một điều hay là tuy chếnh choáng hơi men của rượu Kiên Thành nhưng người uống không bị đau đầu và khi hết hơi rượu lại tỉnh táo như thường, không bị mệt mỏi. Vì thế mà đã từ lâu, rượu Kiên Thành đã trở thành thương hiệu nổi tiếng sáng ngang cùng với các sản vật khác của núi rừng Lục Ngạn như vải thiều, mỳ Chũ, mật ong…
0 nhận xét

Nhớ mãi hương vị ngọt lịm vải thiều Lục Ngạn

Vải thiều một trong những đặc sản nổi tiếng của huyện Lục Ngạn, Nhắc đến vải thiều Lục Ngạn ai trong mổi chúng ta đều có một cãm nhận được vị ngon ngọt đặc trưng của loại đặc sản Bắc Giang này khi mà đã được một lần nếm thử. Vải thiều Lục Ngạn luôn luôn là một thương hiệu trái cây nổi tiếng.
Nằm cách thành phố Bắc Giang 40 km về phía Đông Lục Ngạn là một huyện miền núi được thiên nhiên ban tặng nhiều thắng cảnh đẹp như hồ Khuôn Thần, Cấm Sơn, đập Làng Thum… Khí hậu của Lục Ngạn khá ôn hoà với nền nhiệt độ trung bình thấp. Đặc biệt Lục Ngạn còn được biết đến là địa phương có nhiều sản vật nổi tiếng nhất là quả vải thiều.


Từ thành phố Bắc Giang thẳng quốc lộ 31 mất khoảng 1 giờ xe chạy chúng ta đến thị trấn Chũ trung tâm huyện Lục Ngạn. Nếu đến Lục Ngạn vào khoảng tháng 3 bạn sẽ được thưởng thức cảnh trí nên thơ của Lục Ngạn khi hoa vải nở trắng bên những vòm đồi lúp xúp và xa xa thấp thoáng những mái nhà của người dân địa phương. Nhưng vào khoảng thời gian từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 7 Lục Ngạn trở nên đông đúc, nhộn nhịp lạ thường bởi vải thiều đã vào mùa thu hoạch. Vào khoảng thời gian này đứng ở bất kỳ đâu trên đất Lục Ngạn phóng tầm mắt ra xa bạn cũng bắt gặp hình ảnh những chùm vải chín mọng đỏ lúc liủ trên cây. Đây cũng là mùa người dân Lục Ngạn bận rộn nhất trong năm. Bởi ở Lục Ngạn nhà ít cũng có vài chục cây vải, nhiều thì hàng trăm, hàng nghìn cây. Mọi người ai nấy đều tập trung cho việc thu hoạch vải thiều và trên những gương mặt mướt mát mồ hôi do lao động vẫn ánh lên những niềm vui được mùa sau một năm lao động vất vả. Hiện toàn huyện Lục Ngạn có khoảng 20.000 ha vải thiều mỗi năm cho sản lượng khoảng từ 60 đến 70 ngìn tấn. Vải thiều Lục Ngạn Bắc Giang được ưa chuộng trong cả nước vì thế vào mùa vải các thương lái từ nhiều tỉnh như Hà Nội, Quảng Ninh và các tỉnh phía Nam như thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…đến thu mua. Vải thiều còn được xuất khẩu sang một số nước khác như Trung Quốc, các nước ASEAN và được chế biến thành vải thiều sấy khô, đóng hộp để xuất khẩu và phục vụ người yêu thích vải thiều có thể được thưởng thức quanh năm. Vào thời điểm này tại Lục Ngạn đã có rất nhiều đại lý thu mua vải thiều của người dân địa phương được hình thành tại các điểm tại thị trấn Chũ, xã Phượng Sơn, Quí Sơn, Trù Hựu…. Các đại lý này sẽ mua gom vải của người dân trên địa bàn rồi ký hợp đồng bán lại cho các thương lái từ nơi khác đến.

Vải thiều được trồng ở Lục Ngạn khoảng vào những năm 90 của thế kỷ trước bởi những người nông dân quê gốc Hải Dương. Với sự cần mẫn hay lam hay làm người dân Lục Ngạn đã biến những vùng đồi khô cằn trước đây thành những đồi vải bạt ngàn mang lại sự no ấm cho những người trồng vải. Cây vải ở Thanh Hà vốn đã thơm ngon nổi tiếng lại được trồng ở vùng đồi đất đỏ pha lẫn sỏi trong vùng khí hậu ôn hoà của Lục Ngạn đã tạo thành một thứ quả ngon ngọt khiến người thưởng thức mê ly. Có thể nói mức độ thơm ngon của vải thiều đã vượt qua vải Thanh Hà và dành được rất nhiều cảm tình của người sành hoa quả trong cũng như ngoài nước. Quả vải thiều Lục Ngạn có đặc điểm khi chín có màu đỏ, vỏ mỏng, hạt nhỏ cùi dày khi ăn vải thiều có vị ngọt đậm khiến người ăn cứ muốn thưởng thức thêm và muốn mua thật nhiều để làm quà cho người thân.

Trong chuyến hành trình đến Vải thiều Lục Ngạn thăm vùng đất và thưởng thức vị thơm ngon vải thiều Lục Ngạn nổi tiếng các bạn có thể đến thăm hồ Khuôn Thần nằm cách thị trấn Chũ 10km. Hồ Khuôn Thần rộng 240 ha với nhiều đảo nổi có vẻ đẹp thanh bình, khí hậu mát mẻ được bao bọc bởi những đồi thông xanh tốt quanh năm. Tại Khuôn Thần các bạn có thể dạo chơi trên hồ bằng những chiếc thuyền nhỏ và đến thăm các trang trại của người dân địa phương. Từ thị trấn Chũ nổi tiếng với Mì chũ các bạn cũng có thể đi thêm hơn 35 km nữa đến hồ Cấm Sơn, đi thăm trại nuôi cá nước lạnh, cắm trại trên đảo và bạn có thể ngỡ ngàng về vẻ đẹp thơ mộng của hồ….
0 nhận xét

Nhớ hương vị xôi trứng kiến Lục Ngạn, Bắc Giang

Xôi trứng kiến Lục Ngạn, thưởng thức món xôi trứng kiến lạ lẫm khó quên, về Lục Ngạn Bắc Giang thưởng thức đặc sản có một không hai là món xôi được làm từ trứng kiến. Hãy cùng với đặc sản miền bắc tìm hiểu thêm về món xôi trứng kiến đặc biệt này nhá các bạn.
Xôi trứng kiến một món ăn đặc sản khó quên của Lục Ngạn
Kiến đen thường làm tổ trên thân vầu. Những bãi vầu mọc ken dày đặc là nơi cư ngụ của loài kiến đen. Tổ kiến to bằng hai, ba vốc tay, dễ trông thấy từ xa. Tổ thường được xây chỗ đốt cây vầu có mắt và chỉa ra cành dăm. Đó là chỗ bám chắc nhất.

Lấy trứng kiến làm món xôi đặc sản

Đi lấy trứng kiến chẳng có gì khó. Vít cây vầu, chặt những tổ kiến đem ra chỗ đất trống. Sau đó cầm dao bổ đôi tổ kiến, gõ cho trứng rơi xuống mẹt. Những cái trứng trắng phau nhỏ như hạt gạo nếpvung vãi. Những con kiến thợ bị rũ ra từ trong tổ bất giác bừng tỉnh thấy cuộc sống bị đe dọa, chúng rối rít ôm lấy một quả trứng rồi lao đi tán loạn dù chẳng biết có thoát hiểm không, nhưng còn sống còn đi, và không thể quên bồng theo quả trứng. Một bản năng về trách nhiệm duy trì giống nòi luôn thức trong loài vật li ti lớn hơn đầu que tăm. Mỗi khi một con bám được vào tay người chúng giận dữ ghé chiếc hàm bé xíu cắn rứt gây ngứa ngáy đến khó chịu. Lấy được bát trứng kiến về làm xôi, người ta phải phá đến cả vài chục tổ kiến và hàng triệu kiến đen tan nát cửa nhà, hàng triệu kiến đen lìa đời.

Sau khi rũ được lưng mẹt trứng thì dùng khăn ẩm phủ lên mặt mẹt rồi kéo qua kéo lại cho nhũng con kiến chết dính hết vào lớp tua sợi trên mặt khăn, làm cho đến lúc mẹt trứng trắng phau.

Được bát trứng kiến đồ xôi quả thật là một kỳ công.

Vị bùi béo đậm đà khi được ăn bát xôi trứng kiến bám riết tuổi thơ tôi, bám riết cả cuộc đời, kèm nỗi buồn thoáng chốc khi nhớ đến đàn kiến đen tán loạn…

Mùa xôi trứng kiến bây giờ chỉ còn ẩn trong kí ức.

Những bãi vầu, bãi hóp, bãi vẫn từ lâu đã không còn. Tôi bảo đó có phải là lí do để kiến đen thôi không còn làm tổ, thì thằng cháu con ông bạn vong niên cho biết: "Bây giờ rừng chia, khoảnh nào có chủ ấy nên không có những đàn trâu thả rông như những năm xưa. Không có trâu thả rông thì không có phân làm vật liệu cho kiến đen xây tổ. Với lại bây giờ trâu còn rất ít lắm, còn bao nhiêu ruộng mà cần đến trâu….

Cuộc sống đã chuyển sang hướng khác. Bát xôi trứng kiến chỉ còn trong kí ức lớp người như tôi. Những lớp sau này sẽ chỉ còn biết xôi trứng kiến trên tài liệu ghi chép.
0 nhận xét

Về Bắc Giang thưởng thức đặc sản cua da nổi tiếng

Cua da bắc giang, đặc sản của da ở Bắc giang về bắc giang thưởng thức hết các món ẩm thực món ngon đặc sắc nhất xứ kinh Bắc. Hãy cùng đặc sản miền bắc điểm danh thêm một món cua da một sản phẩm đặc sản của người dân Bắc Giang nhá.

Cua da đặc sản nổi tiếng của Bắc Giang

Thưởng thức món cua da đặc sản nổi tiếng của Bắc GIang

Nếu có dịp về với đất Yên Dũng (Bắc Giang) vào cữ gió heo may về, thế nàobạn cũng sẽ được chiêu đãi một trong những món ngon và hiếm bởi lònghiếu khách của người dân nơi đây được chế biến từ Cua Da.

Có một loài cua sống trong các ghềnh đá ở đoạn sông Cầu chảy qua địa phận mộtsố xã ven sông huyện Yên Dũng (Bắc Giang) như: Đồng Việt, Đồng Phúc, ThắngCương mà dân trong vùng quen gọi là “Cua Da”. Loài cua này rất đặc biệt ở chỗ chỉxuất hiện và khoảng đầu Đông trong thời gian khoảng 2 tháng (tháng 9 và tháng 10âm lịch) hàng năm.

Đây là một loài cua sông to gần bằng con ghẹ, về hình thức cơ bản cua da trông giống loàicua đồng, nhưng chân dài, mình to gấp ba, bốn lần cua đồng và mang một số đặcđiểm khác biệt với họ nhà cua. Đó là hai càng của giống cua này có hai lớp lông nhưrêu bám vào, yếm cua cũng có lớp diềm rêu điệu đà. Chính cái lớp lông rêu này đãkhiến nhiều người băn khoăn về tên gọi của loài cua này là: “Cua Da, Cua Da hay làCua Gia?”. Có người nói rằng phải gọi là “cua ra” vì gắn với câu tục ngữ “Thángchín cua ra, tháng ba cua vào”. Có người lại nói phải gọi là “cua da” vì loài cua nàycó một lớp da trên càng. Có người lại bảo phải gọi là “cua gia”, vì đơn giản tên gọiấy nghe có vẻ hay hơn, hợp lý hơn.

Theo anh Phạm Văn Trường, 42 tuổi ở xóm Cựu Trên, xã Đồng Phúc, Yên Dũng-người có thâm niên trong nghề thu gom và bán Cua Da cho các nhà hàng đặt sẵntrong huyện, thành phố và một số tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội cho hay: “Khoảng hơn 10năm về trước, người đi chài lưới rất ghét loại cua này vì nó rất tanh. Nhưng từ khingười dân biết ăn cua bằng cách hấp bia, có xả, gừng nhâm nhi cùng thứ rượu nếpthơm nồng nút bằng lá chuối; biết giã ra nấu riêu ăn với bún có kèm rau sống cùngmột chút hoa chuối thì nó trở thành đặc sản”.

 Thu nhập từ cua đã giúp một số hộ dân nơi đây giảm nghèo, có cuộc sốngấm no. Tuy nhiên, do giá trị tăng cao nên nhiều người đi săn lùng cua da, do vậylượng cua ngày càng hiếm. Đặc biệt, nó chỉ có ở một số khúc sông thuộc địa phậnvài xã vùng hạ Yên Dũng, và xuất hiện trong vòng hai, ba tháng rét cuối năm nên giátrị của cua da ngày càng tăng do xuất phát từ yếu tố “hiếm” mà thành “quý” chăng?

Theo kinh nghiệm của người dân làng chài nơi đây, Cua Da có thể được chế biếnthành nhiều món như: cua hấp bia, cua rang muối, cua chiên, cua giã nấu canh…Nhưng ăn cua da ngon nhất và đơn giản nhất là đem hấp bia. Bỏ cua vào thùng, xảnước và xóc mạnh cho sạch. Mỗi con cua to nặng từ 100g-200g, xếp vào nồi, rắcthêm chút bột canh, bỏ thêm xả, gừng, rót bia xâm xấp mình cua, đặt lên bếp. Đểlửa thật nhỏ, đun li ti cho đến khi bia sôi lăn tăn thì bật lửa to cho sôi bồng lên là bắcra. Lửa nhỏ để giữ cho càng và chân không bị rụng, đồng thời để gia vị ngấm, khửmùi tanh.

Khi cua chín có màu vàng cam rất hấp dẫn. Thịt cua ngọt, lớp vỏ ở chân và càng cua khámềm, khi ăn không cần dùng đến kẹp như cua hay ghẹ biển. Ăn cua da chấm bột canh phamù tạt kèm nửa quả chanh vắt vào thì không gì thú vị bằng. Thật cảm ơn cho người đưa móncua này vào thành món đặc sản. Nó không chỉ giúp người dân nơi đây tăng thêm thu nhập,mà còn góp phần đưa vùng đất này có thêm một món đặc sản “của hiếm Cua Da”.
0 nhận xét
 
Copyright © 2011. Chuyên trang Đặc sản 3 miền
Thiết kế website by Nguyễn Chí Bảo